Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, suy thoái tài nguyên đất và yêu cầu phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững, vấn đề sức khỏe đất ngày càng được quan tâm như một yếu tố then chốt quyết định năng suất, chất lượng cây trồng và hiệu quả kinh tế nông nghiệp. Sức khỏe đất không chỉ phản ánh khả năng cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng mà còn thể hiện sự ổn định về cấu trúc đất, hoạt động sinh học của hệ vi sinh vật và khả năng chống chịu với các tác động bất lợi từ môi trường. Tuy nhiên, tại nhiều vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm ở đồng bằng sông Hồng, trong đó có tỉnh Hưng Yên, đất canh tác đang có dấu hiệu suy giảm sức khỏe do canh tác thâm canh kéo dài, lạm dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật, làm giảm hàm lượng mùn, suy thoái cấu trúc đất và mất cân bằng sinh học trong đất. Cây bí xanh là một trong những cây rau màu có giá trị kinh tế cao, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu của tỉnh Hưng Yên, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu chuyển đổi cây trồng, nâng cao thu nhập cho nông hộ. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, năng suất và chất lượng bí xanh ở nhiều vùng sản xuất có xu hướng không ổn định; hiện tượng cây sinh trưởng kém, dễ nhiễm sâu bệnh, chi phí đầu vào ngày càng tăng nhưng hiệu quả kinh tế chưa tương xứng.
Các nghiên cứu gần đây tại Việt Nam cũng như trên thế giới đã chứng minh rằng việc bổ sung nguồn hữu cơ lâu dài có khả năng cải thiện đáng kể sức khỏe đất, thúc đẩy quá trình chuyển hóa cacbon, gia tăng hoạt động sinh học của đất và nâng cao năng suất cây trồng. Điều này khẳng định rằng việc lựa chọn đúng biện pháp cải thiện sức khỏe đất không chỉ mang lại hiệu quả về mặt nông học mà còn góp phần giảm phát thải khí nhà kính, tăng khả năng tích lũy cacbon và hướng tới nền nông nghiệp phát triển bền vững. Đối với tỉnh Hưng Yên, các nghiên cứu thử nghiệm nhằm xác định và so sánh hiệu quả của các biện pháp kỹ thuật cải thiện sức khỏe đất dưới điều kiện canh tác thực tế còn rất hạn chế. Do đặc điểm đất đai, điều kiện khí hậu và tập quán canh tác của địa phương có nhiều khác biệt so với các vùng sinh thái khác nên kết quả nghiên cứu từ những khu vực khác chưa thể áp dụng trực tiếp.
Đề tài "Thử nghiệm xác định các biện pháp kỹ thuật hiệu quả nhất cải thiện sức khỏe đất cho cây bí xanh tại tỉnh Hưng Yên" được tiến hành nhằm xác định và đánh giá các biện pháp kỹ thuật canh tác hiệu quả nhất trong việc cải thiện sức khỏe đất, qua đó nâng cao sinh trưởng, năng suất và chất lượng cây bí xanh tại tỉnh Hưng Yên, góp phần đề xuất giải pháp canh tác bền vững phù hợp với điều kiện địa phương.
Thí nghiệm được tiến hành vào vụ thu đông (tháng 9-12/2025) tại xã Bắc Đông Hưng, tỉnh Hưng Yên. Thí nghiệm gồm có 4 công thức: CT1-công thức đối chứng (canh tác truyền thống của nông dân tại địa phương); CT2-bổ sung phân hữu cơ vi sinh (thành phần: chất hữu cơ 18%; VSV cố định đạm 1x106 CFU/g; VSV phân giải P 1x106 CFU/g; VSV phân giải xenlulo 1x106 CFU/g; lượng sử dụng: 2500 kg/ha); CT3-che phủ rơm rạ; CT4-che phủ rơm rạ kết hợp bổ sung chế phẩm vi sinh EMUNIV. Thí nghiệm được bố trí theo diện rộng, diện tích 200 m2/ô thí nghiệm, không có lần nhắc lại (TCVN 12719:2019).
Mẫu đất được lấy trước và sau thí nghiệm để phân tích, đánh giá chất lượng đất về: pHKCl, OM, N hữu cơ (tính theo OM), vi sinh vật tổng số, tổng số vi sinh vật cố định N, tổng số vi sinh vật phân giải lân, tổng số vi sinh vật phân giải xenlulo. Ngoài ra, đề tài còn theo dõi một số chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất bí xanh: Thời gian sinh trưởng; Chỉ số sinh trưởng (SPAD); Chiều dài quả (cm) và đường kính quả (cm); Tổng số quả/cây; Trọng lượng quả (kg); Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu (tấn/ha); Hàm lượng chất khô (%).
    |
 |
| Hình ảnh mô hình thí nghiệm của đề tài tại Hưng Yên |
Kết quả thí nghiệm cho thấy công thức bón bổ sung phân hữu cơ vi sinh (CT2) đã tác động tích cực và đồng bộ nhất đến cả tốc độ phát triển (giúp rút ngắn thời gian sinh trưởng) lẫn cường độ sinh trưởng (duy trì bộ lá khỏe, chỉ số quang hợp SPAD cao) của cây bí xanh. Công thức này cũng chứng minh được sự tối ưu khi vừa mang lại năng suất thực thu cao nhất (33,8 tấn/ha), vừa nâng cao được chất lượng nông sản (hàm lượng chất khô 5,0%).
Bên cạnh đó, các số liệu thực nghiệm khẳng định công thức bón bổ sung phân hữu cơ vi sinh có khả năng cải thiện sức khỏe đất về các tính chất hoá học cũng như sinh học. Công thức bón bổ sung phân hữu cơ vi sinh đã nâng chỉ số pHKCl lên mức 5,24, hàm lượng hữu cơ tổng số đạt cao nhất (3,89%) tương ứng với hàm lượng N hữu cơ cao (0,23%). Công thức này cũng thể hiện sự vượt trội về mặt sinh học khi mật độ VSV tổng số tăng gần gấp đôi so với ban đầu, đạt mức cao nhất là 6,3 × 106 CFU/g. Mật độ các nhóm VSV có ích cũng đều đạt mức cao nhất: vi sinh vật cố định nitơ đạt mật độ 5,7 × 105 CFU/g, vi sinh vật phân giải P 20,0 × 105 CFU/g, và vi sinh vật phân giải xenlulo là 8,0 × 105 CFU/g. Sự cải thiện tích cực về mật độ vi sinh vật tổng số cũng như các nhóm vi sinh vật chức năng tại công thức này chính là cơ sở khoa học cốt lõi giải thích cho sự phát triển vượt trội về các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất thực thu đã được ghi nhận ở phần trước.
Kết quả của đề tài cho thấy, việc áp dụng công thức bón bổ sung phân hữu cơ vi sinh không chỉ đem lại lợi ích kinh tế trước mắt mà còn bảo đảm tính bền vững lâu dài cho môi trường đất canh tác. Kết quả này sẽ cung cấp cơ sở khoa học để lựa chọn biện pháp kỹ thuật phù hợp nhằm cải thiện sức khỏe đất, nâng cao năng suất và chất lượng nông sản, giảm chi phí đầu vào, tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên đất, đồng thời góp phần thực hiện mục tiêu phát triển nền nông nghiệp xanh, phát thải thấp, thích ứng với biến đổi khí hậu và sản xuất nông nghiệp bền vững.
TS. Nguyễn Thành Trung - Bộ môn Khoa học Đất và DDCT